Bàn Về Chiến Tranh-Carl von Clausewitz

Bàn Về Chiến Tranh-Carl von Clausewitz


Năm phát hành: 0

Tướng Karl Von Clausewitz sinh năm 1780 ở Burg, gần thành phố Magdeburg,nước Phổ. Họ hàng ông phần nhiều là những trí thức tư sản. Bố Clausewitz làm sĩ quan trong quân đội phong kiến Phổ.

Bấy giờ nước Phổ là một vương quốc rộng lớn và hùng mạnh nhất trong số hơn 300 nước nhỏ thuộc “Đế quốc La Mã thần thánh Germain” (sau này thống nhất lại thành đế quốc Đức. Chế độ cai trị ở Phổ là một chế độ phong kiến chuyên chế, phản động vào bậc nhất ở châu Âu. Quân đội Phổ thường được coi là một quân đội mạnh nhất châu Âu thời đó.

Theo luật của vương triều Phổ, việc giữ các chức vụ sĩ quan trong quân đội là đặc quyền của quý tộc. Không thuộc dòng dõi quý tộc thì không được làm sĩ quan. Cho nên, để được hưởng cái đặc quyền đó, ông bố của Clausewitz đã phải tìm cách điền thêm danh hiệu quý tộc “Von” của gia đình nhà vợ vào tên họ của mình. Nhưng ông không làm sĩ quan được lâu. Sau cuộc Chiến tranh Bảy năm*, trong hàng ngũ sĩ quan Phổ có sự thanh trừng những phần tử tư sản. Bố Clausewitz cũng là một người trong số sĩ quan bị thanh trừng kể trên, vì một sự xúc phạm nào đấy, nhưng có lẽ chính là vì thành phần quý tộc không rõ ràng của mình.

Trở về Burg, ông xin được một chân viên chức thu thuế. Lương ít, ông rất vất vả mới nuôi nổi sáu đứa con, trong đó Clausewitz là con thứ năm. Vì sinh hoạt gia đình thiếu thốn nên ngay từ năm 12 tuổi, Clausewitz đã phải vào làm lính cầm cờ trong trung đoàn “Hoàng tử Ferdinand” đóng ở Potsdam.

Chỉ một năm sau khi vào lính (1793), Clausewitz đã có mặt trong trận bao vây quân Cộng hòa Pháp ở Mainz. Trận đánh kết thúc, người ta thấy cậu bé Clausewitz, gần như cong người đi vì phải vác một cây cờ to quá khổ, cùng đội ngũ lính Phổ ngạo nghễ tiến vào thành phố giữa những đám cháy còn nghi ngút khói và tiếng “hura” ầm ĩ của những phần tử bảo hoàng.

Tiếp đấy, cậu bé lại tham gia những cuộc tiến công của quân Phổ vào biên giới Bắc Pháp.

Đó là những trận đánh nằm trong toàn bộ âm mưu can thiệp vũ trang của liên quân Phổ – Áo – Anh để lật đổ nền cộng hòa tư sản Pháp mới được thành lập sau cuộc Đại cách mạng 1789, nhằm khôi phục lại chế độ phong kiến chuyên chế ở Pháp. Trước sức mạnh đang lên của cách mạng Pháp và tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân Pháp lúc bấy giờ, âm mưu ấy đã bị thất bại.

Vì còn bé nên Clausewitz chưa hiểu mục đích của cuộc can thiệp vũ trang kể trên thực chất là để làm gì? Nhưng, cái không khí trận mạc mà cậu bé 13 tuổi ấy được trải qua đã gây cho cậu ta những cảm giác thú vị lạ lùng. Nó bắt đầu kích thích những ham muốn về danh vọng và vinh quang trong cậu ta. Lớn lên, Clausewitz viết về chuyện đó như sau: “Bước vào đời của tôi diễn ra trên miếng đất của những sự kiện lớn quyết định số phận các dân tộc, tầm mắt của tôi không phải hướng vào khuôn khổ hạnh phúc gia đình êm ấm mà là những cổng chào chiến thắng đón mừng người thắng trận, những vòng hoa tươi làm dịu mát vầng trán nóng bỏng…”. Chẳng những thế, nó còn biểu hiện khá rõ nét khi Clausewitz trình bày quan điểm của mình về động cơ và sức mạnh tinh thần của người lính trong tác phẩm “Bàn về chiến tranh” sau này.

Trong những năm bắt đầu theo đuổi nghề lính, anh lính trẻ Clausewitz hiểu rằng: Trong xã hội Phổ đương thời, anh ta không có đủ những điều kiện để tiến lên những địa vị cao. Gia đình anh ta không phải là một gia đình sĩ quan thế tập và có tên tuổi. Cha mẹ anh ta không có ấp trại và cũng không có bạn bè vai vế trong chính quyền. Đối với anh ta, muốn tiến thân thì chỉ có một con đường là tạo ra một chỗ đứng bằng sự hiểu biết và bản lĩnh của chính mình. Bởi thế, anh ta không muốn phung phí thì giờ rảnh rỗi còn lại trong cuộc sống nhà binh vào những cuộc tiêu khiển vô vị, mà dùng nó vào việc tự học, tự nghiên cứu. Nhờ có số vốn kiến thức tự học cộng với những cuộc vận động ráo riết, Clausewitz mới được đi học ở trường Võ bị Berlin.

Đến trường, Clausewitz được sự ủng hộ của tướng Scharnhorst là hiệu trưởng và cũng là một trong những tướng lĩnh nổi tiếng đang kêu gọi triều đình Phổ tích cực cải tổ quân đội theo hướng quân đội cộng hòa tư sản Pháp. Nhận thấy ở Clausewitz những triển vọng mà nhiều học sinh sĩ quan khác không có, Scharnhorst đã hết sức chú ý giúp đỡ người thanh niên nghèo và có chí khí này khắc phục những khó khăn do tự học thiếu hệ thống. Từ đấy giữa hai người bắt đầu có một mối quan hệ khá sâu sắc về tư tưởng và tình cảm. Clausewitz đã coi Scharnhorst như cha đẻ của mình.

Năm 1803, Clausewitz tốt nghiệp khóa học đứng đầu số sĩ quan ra trường. Theo sự giới thiệu của Scharnhorst, ông về làm sĩ quan phụ tá cho hoàng thân August, anh em họ với vua Phổ.

Từ đấy, Clausewitz lại càng có điều kiện đi sâu hơn vào việc nghiên cứu khoa học quân sự. Ông rất thích môn toán học và môn lịch sử quân đội. Ông thường tỏ ra sùng bái nghị lực cứng rắn, mưu lược khôn khéo và đầu óc thực tế của Frederick đệ nhị (còn gọi là Frederick Đại đế)*, hết sức ca ngợi cái vinh quang mà ông vua này đã mang lại cho nước Phổ trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. Ông đọc Machiavelli* học tiếng Pháp để đọc tác phẩm của các nhà văn Ánh sáng Pháp* và tìm hiểu về cuộc Đại cách mạng Pháp 1789. Được Scharnhorst khuyến khích, Clausewitz đặc biệt chú ý nghiên cứu nghệ thuật quân sự của nước Pháp sau cuộc cách mạng tư sản và bắt đầu có những ý kiến phê phán nghệ thuật quân sự Phổ đã quá lỗi thời. Đó là những cái mầm đầu tiên về tư tưởng quân sự của Clausewitz, sau này sẽ lớn lên và hình thành một cách hoàn chỉnh trong tác phẩm “Bàn về chiến tranh“.

Trong thời gian ở Berlin, Clausewitz cũng bắt đầu làm quen với triết học. Ông thường xuyên đi dự các buổi diễn giảng của giáo sư Keiseiwetter – một nhà triết học theo chủ nghĩa Kant (Người ta cho rằng: Trong khi nghiên cứu triết học ở trường Đại học Berlin, Clausewitz đã tiếp thụ được những yếu tố biện chứng duy tâm của nền triết học cổ điển Đức, bấy giờ đang phát triển tới đỉnh cao của nó, với những đại diện nổi tiếng: Fichte, Shelling và nhất là Hegel. Đọc tác phẩm “Bàn về chiến tranh” của Clausewitz, chúng ta thấy những yếu tố biện chứng duy tâm kể trên nổi lên khá rõ trong cách đặt vấn đề và giải quyết các vấn đề lý thuyết quân sự. Như Lenin nhận xét: “Tư tưởng quân sự của Clausewitz đã được Hegel làm cho phong phú thêm”*.

Năm 1806, vua Phổ Frederick Wilhelm đệ tam (người nối ngôi Frederick đệ nhị) tuyên chiến với hoàng đế Napoléon nước Pháp. Thế rồi, cả châu Âu đều sửng sốt trước sự thua trận quá nhanh của quân đội Phổ – một quân đội mà chính Napoléon cũng không dám coi thường.

Chỉ sau sáu ngày giao chiến, quân Pháp đã hoàn toàn đánh tan quân Phổ và tiến vào chiếm Béclin. Vua Phổ và hoàng hậu phải chạy bạt ra biên giới. Trong trận Auerstedt, Clausewitz đã chiến đấu khá can đảm. Khi rút lui, ông cùng hoàng thân August bị quân Pháp bắt làm tù binh, rồi cả hai đều bị đưa về thành phố Nancy nước Pháp.

Theo quy chế chung của các nước châu Âu thời bấy giờ, hoàng thân August và Clausewitz tuy là tù binh, song vẫn được phép đi lại tự do ở khắp nơi, chỉ trừ một điều kiện là không được ra khỏi đất Pháp. Tính vốn phù phiếm, hoàng thân August thường tỏ ra thú vị với mọi kiểu cách sinh hoạt, ăn chơi của quý tộc và tư sản Pháp, Clausewitz thì khác. Là người thâm trầm, sâu sắc, ông luôn luôn suy nghĩ về những nguyên nhân đã đưa nước Phổ đến thất bại và trở thành một nước chư hầu của nền đế chế Napoléon. Ông muốn tìm ra một con đường giải phóng nước Phổ.

Nhưng theo ông: Để đánh thắng đối phương thì điều trước hết là phải xem đối phương đã làm thế nào để chiến thắng? Bởi vậy, trong suốt thời gian ở Pháp, Clausewitz rất chú ý xem xét, tìm hiểu tình hình nước Pháp sau cuộc cách mạng tư sản và những cái mới của nghệ thuật quân sự Pháp. Qua những bức thư của Clausewitz gửi về cho vợ chưa cưới là nữ bá tước Marie von Brühl, người ta thấy ông luôn luôn đau khổ, luôn luôn mơ tưởng đến một ngày nào đó nước Phổ của ông sẽ hùng mạnh trở lại. Ông viết: “Tổ quốc và vinh dự dân tộc là hai thứ thiêng liêng trên trái đất, nếu không có nó thì trên đời này không còn cái gì nữa cả!” Ông muốn mình “mau chóng được trở về quân đội Phổ để chiến đấu phục thù và nếu cần, có thể chết vinh quang cho Tổ quốc…” Tháng 11 năm 1807, Clausewitz được chính quyền của Napoléon trả lại tự do.

Về tới Berlin, ông được tiếp xúc ngay với một không khí chính trị sôi nổi. Trong vương triều Phổ lúc này đã hình thành hai phe phái đối lập nhau rõ rệt: Một phái gồm vua Phổ Frederick đệ tam và bọn quý tộc phản động nhất, chủ trương “giữ quan hệ hữu nghị với hoàng đế Pháp“, thực chất là hàng phục Napoléon và hy vọng rằng nhờ đó Napoléon sẽ không đụng chạm gì đến cơ cấu xã hội Phổ, không tiến hành những cuộc cải cách dân chủ như ông ta đã từng làm khi chỉ huy đạo quân Pháp sang chiếm các tiểu bang Đức.

Phái này khiếp sợ sức mạnh quân sự của Napoléon. Nhưng điều làm cho họ khiếp sợ hơn lại là sức mạnh của quần chúng lao động nước Phổ. Họ sợ lực lượng to lớn này cũng sẽ bắt chước “đẳng cấp thứ ba”* ở Pháp nổi dậy lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế ở Phổ.

Một phái khác, gồm những quý tộc và tướng lĩnh “thức thời“, kiên quyết hơn như Scharnhorst, Gneisenau, Stein, Boyen…, thì chủ trương cải cách xã hội và chấn chỉnh các lực lượng quân đội để phục thù. Họ cũng gờm lực lượng to lớn của quần chúng. Song, trước xu thế lịch sử đang tiến tới mạnh mẽ, đồng thời để lôi cuốn nhân dân Đức vào cuộc vũ trang chống Napoléon, họ cũng đề ra một số cải cách dân chủ có khuynh hướng tư sản phỏng theo Pháp và buộc vua Phổ phải thực hiện.

Còn giai cấp tư sản Đức thì thế nào? Bấy giờ, nó còn là một giai cấp chưa phát triển và không thống nhất vì bị phân tán trong các lãnh địa cát cứ. Nó còn bị ràng buộc nhiều bởi những khách hàng chính là các lãnh chúa phong kiến và các đồn binh, chưa buôn bán rộng với nước ngoài. Giai cấp tư sản Đức cũng muốn cải cách xã hội nhưng lại sẵn sàng thỏa mãn với những cải cách nửa vời mà những phần tử quý tộc “thức thời” đề ra.

Lớp trí thức đại diện cho giai cấp tư sản Đức như Hegel, Fichte,.. vẫn nuôi hy vọng phát triển tư bản và thống nhất nước Đức bằng sự tự phát của các biến cố và sự sáng suốt của các nhà quý tộc. Khi cách mạng tư sản Pháp mới thành công, họ hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng khi phái Jacobin* lên cầm quyền, đề ra những chủ trương cải cách xã hội tích cực, phù hợp với lợi ích của đông đảo quần chúng, kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng, xử tử tên vua phản động Louis XVI, thì họ không tài nào hiểu nổi. Họ sợ hãi và tức giận nền “chuyên chính khủng khiếp” của những người Jacobin. Họ nêu lên luận thuyết: “Xã hội Phổ chỉ phát triển trong quá khứ và kết thúc ở chế độ quân chủ lập hiến ở nước Phổ” (Hegel).

Khi quân đội Phổ bị quân đội Napoléon đánh cho đại bại, những nhà trí thức tư sản Phổ nói trên đã cố gắng tuyên truyền đề cao tinh thần yêu nước Phổ bằng cách nêu lên luận thuyết dân tộc thượng đẳng Germain “chỉ có giống người Germain mới là dân tộc lịch sử của thế giới” (Hegel). Với luận thuyết cực kỳ sôvanh (chauvinism) phản động ấy, họ hy vọng sẽ cổ vũ được nhân dân Phổ và các tiểu bang Đức đứng dậy chống lại chủ nghĩa bành trướng của Napoléon và đại tư sản Pháp*.

Quan điểm chính trị của Clausewitz cũng là quan điểm của lớp trí thức tư sản nói trên. Ông lên án bọn quý tộc, cho đó là bọn ăn bám, không có chỗ dựa trong nhân dân. Đối với ông, giai cấp tư sản là những người lao động cần cù và nắm được nông dân. Ông không chịu nổi hình thức cai trị tàn bạo của chế độ phong kiến và tán thành chủ nghĩa dân chủ tư sản, coi đó là “điều kiện làm nảy nở mọi tinh lực của dân tộc”. Nhưng mặt khác, ông lại “không muốn đi quá xa trên con đường dân chủ”. Cũng như Hegel và những nhà triết học cổ điển Đức mạt sát những người Jacobin Pháp, ông gọi những người theo chủ nghĩa Jacobin ở Đức như Gorres, d’Arndt là bọn quá khích, bọn mị dân. Clausewitz muốn duy trì nền quân chủ lập hiến ở Phổ. Theo ông, nghị viện chỉ nên giữ vai trò trợ thủ đắc lực của nhà vua, vì chỉ có như vậy mới tránh được mọi sự “hỗn loạn“, “quá trớn” trong quần chúng.

Như trên đã nói, Clausewitz là một người yêu nước. Nhưng trong khi biểu lộ tình cảm yêu nước, yêu dân tộc mình một cách nồng nhiệt thì đồng thời ông lại đi đến chỗ miệt thị dân tộc khác. Tư tưởng dân tộc của ông có màu sắc sôvanh khá rõ. Dưới mắt ông, “dân tộc Đức là một dân tộc rất phong phú và sâu sắc về tinh thần, có nhiều sức mạnh và ít tính toán. Còn người Pháp thì linh hoạt, nhanh nhẹn song dễ bị kích thích, huênh hoang, hời hợi, thiếu cuộc sống nội tâm, thiếu khả năng làm những việc đứng đắn và những trách nhiệm nặng nề”. Theo ông, người Đức có cá tính phong phú và tốt đẹp hơn người Pháp. Song đứng về cả dân tộc thì lại không mạnh vì dân tộc Đức còn bị phân tán, chưa có ý thức thống nhất về chính trị như Pháp.

Giải thích nguyên nhân thua trận của Phổ, Clausewitz cho rằng: Về phía Phổ, bộ máy nhà nước đã quá hư nát, quân đội thì lạc hậu, nhân dân thì bị bưng bít, không được phổ biến những tri thức quân sự cần thiết và không hay biết chút gì về những biến đổi đáng sợ của nước Pháp sau cuộc cách mạng 1789. Còn về phía Pháp, cũng theo Clausewitz, họ thắng Phổ không phải chỉ vì những nguyên nhân về quân sự mà trước hết là do tính chất nhà nước và hành chính, tính chất chính phủ và tình hình nhân dân đã thay đổi hoàn toàn.

Như Marx đã nhận xét về những người trí thức tư sản Phổ thời bấy giờ, quan điểm chính trị của Clausewitz cũng mang tính chất hai mặt: Có mặt tiến bộ, yêu nước và có mặt tiêu cực, phản động.

Quan điểm chính trị ấy đã liên kết Clausewitz với những tướng lĩnh cùng chí hướng như Scharnhorst, Gneisenau, Stein… Họ hăng hái đề xướng việc cải cách quân đội Phổ theo kiểu quân đội tư sản Pháp.

Mặc dầu ở châu Âu đã xảy ra biết bao sự kiện mới mẻ về quân sự, song quân đội Phổ hồi đầu thế kỷ XIX về căn bản vẫn là một quân đội phong kiến cổ lỗ. Thành phần của nó vẫn giống như thành phần của các quân đội phong kiến châu Âu từ mấy chục năm trở về trước, nghĩa là vẫn bao gồm những người lính đánh thuê hoặc lính trưng tập do các chúa đất bắt nhập ngũ. Đời sống của binh lính Phổ rất khổ cực: Lương đã ít lại bị bọn sĩ quan và bọn nhà thầu ăn chặn, bớt xén* . Kỷ luật trong quân đội Phổ là kỷ luật bằng roi vọt, nhục hình. Binh lính là những người nghèo khổ nên không thể nào mon men được tới chức sĩ quan. Họ bị bắt buộc phải tham gia các cuộc chiến tranh với những mục đích khác nhau: Tranh chấp quyền thừa kế giữa các dòng họ trị vì, giành giật và chia lại đất đai giữa các vương quốc, công quốc, bá quốc hoặc đàn áp các phong trào đấu tranh của nông dân. Ý thức dân tộc của người lính trong chiến tranh rất mơ hồ (bấy giờ, nhiều nước châu Âu vẫn chưa hình thành dân tộc tư sản) nên tinh thần chiến đấu rất kém. Nói chung, chiến tranh chỉ là công việc của những người lính nhà nghề. Còn nghệ thuật tiến hành chiến tranh: Đó là sản phẩm của những nội các và “trí tuệ cao siêu” của các ông hoàng, các bậc công hầu… Trong chiến đấu, quân đội Phổ vẫn còn dùng chiến thuật đánh theo tuyến hàng ngang từ thời Frederick đệ nhị để lại.

Lối đánh này nảy sinh từ khi xuất hiện khẩu súng bắn bằng kíp đá lửa và chiếc lưỡi lê. Những đội quân nông nô ô hợp, trang bị giáo mác và bố trí phân tán từng chặng trước đây, bấy giờ được trang bị súng và bố trí thành tuyến hàng ngang. Vì tốc độ bắn chậm (phải nhồi đạn) nên mỗi tuyến thường có 7-8 hàng, sau rút lại còn 3 hàng: Một hàng bắn, hai hàng nhồi đạn, cứ thế thay phiên nhau. Các tuyến được tổ chức thành tiểu đoàn để trong cùng một lúc có thể sử dụng được nhiều khẩu súng, tạo nên một hỏa lực liên tục, lấn át đối phương. Mặt khác, chỉ trong đội ngũ hàng ngang cứng nhắc, bên phải là sĩ quan, bên trái là sĩ quan, phía sau là đội đốc chiến, bọn chỉ huy mới ngăn chặn được nạn lẩn trốn của những người lính đánh thuê. Vì sợ lính trốn nên các đơn vị thường không hành quân ban đêm, không đóng quân cạnh rừng.

Chiến thuật nói trên chỉ cho phép quân đội chiến đấu ở những địa hình bằng phẳng và trống trải, toàn thể đội hình đều nằm trong tầm mắt kiểm soát của bộ chỉ huy. Khi chiến đấu, binh lính đi nghiêm theo “bước chân ngỗng” trong đội hình, vận động lên phía trước, giữ hàng thật đều, bắn đồng loạt. Cuối cùng, khi giáp địch, tất cả đều bước vào hỗn chiến bằng lưỡi lê. Để huấn luyện một chiến thuật như vậy, người ta không cần đến ý thức và trí tuệ của người lính. Các sĩ quan chỉ việc dựa vào một thứ kỷ luật kiểu nhà tù và một quá trình huấn luyện lâu dài bằng những phương pháp rèn dạy người lính như dạy thú vật là đủ. Sau những chiến thắng của Frederick đệ nhị trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, phương thức chiến đấu đó đã được coi là kiểu mẫu, được chi tiết hóa ra thành các giáo điều, luật lệ bất di bất dịch mà quân đội Phổ và quân đội các nước châu Âu đều đem áp dụng.

Nhưng trước sự phát triển của sản xuất xã hội cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, phương thức chiến đấu đó đã bộc lộ ra tất cả những chỗ yếu căn bản của nó.

Lối đánh theo tuyến hàng ngang trên đất bằng thường đòi hỏi cả hai bên đối địch phải chuyển đi chuyển lại mất nhiều thì giờ để tìm kiếm, lựa chọn một chiến trường mà cả hai bên đều có thể chấp nhận chiến đấu (consentement mutuel), nghĩa là đều có thể dàn quân ra đánh nhau được.

0 Đánh giá

Download: PDF
Download: Epub
Download: Mobi
Download: AZW

Tổng đánh giá

0 người đánh giá
Viết đánh giá